Hỗ trợ ngăn ngừa & Làm tan Cục máu đông
Tư vấn miễn cước gọi: 1800.6626

Xơ vữa động mạch là gì?

Chúng ta vẫn thường nghe tới xơ vữa động mạch thường xuyên như một bệnh lý nguy hiểm cần phòng tránh. Vậy xơ vữa động mạch là gì? Tác hại của nó ra sao? Và chúng ta có thể làm gì để phòng và điều trị nó?

Xơ vữa động mạch là gì?
Theo tổ chức Y tế thế giới: “Vữa xơ động mạch là sự phối hợp các hiện tượng thay đổi cấu trúc nội mạc của các động mạch lớn và vừa, bao gồm sự tích tụ cục bộ các chất lipid, các phức bộ glucid, máu và các sản phẩm của máu, mô xơ và cặn lắng acid, các hiện tượng này kèm theo sự thay đổi ở lớp trung mạc”.

Mảng xơ vữa hình thành như thế nào?
Có nhiều giả thuyết đưa ra để giải thích cho sự hình thành mảng xơ vữa trong lòng mạch nhưng hiện nay chưa hoàn toàn sáng tỏ. Giả thuyết về tăng lipid hiện đang được nhiều người công nhận nhất. Ngoài ra, còn có một số giả thuyết khác như: giả thuyết tế bào, giả thuyết về ti lạp thể, giả thuyết đơn dòng…
Cơ chế được ghi nhận hiện nay là:
Giai đoạn 1: Rối loạn huyết động tại chỗ (hiện tượng xoáy máu) làm biến đổi cấu trúc bình thường của thành mạch. Tổn thương xuất hiện sớm nhất là tình trạng phù nề, về sau mới xuất hiện các tế bào ăn mỡ dưới dạng các tế bào có hạt, tụ lại thành đám dưới tế bào nội mô. Ở giai đoạn này, thành mạch bị rối loạn tạo điều kiện cho lắng đọng lipid. Tiếp theo là sự hình thành những vệt mỡ trên bề mặt nội mạc.
Giai đoạn 2: Mảng xơ vữa đơn thuần xuất hiện. Mảng xơ vữa thường dày, có vỏ xơ bao bọc 1 vùng hoại tử. Vùng hoại tử chứa rất nhiều acid béo và cholesterol. Mảng vữa xơ tiến triển rất nhanh làm cho động mạch hẹp dần.
Giai đoạn 3: Sự biến đổi thành mảng xơ vữa gây biến chứng làm tắc nghẽn động mạch và tai biến thiếu máu cục bộ. Hiện tượng chủ yếu của quá trình phát triển này là sự loét của lớp áo trong, nghĩa là lớp tế bào nội mạc bị xé rách, máu sẽ chảy vào qua chổ loét tạo nên cục máu đông gây bít tắc mạch. Ngoài ra, các mảng xơ vữa có thể bị bong ra, theo dòng máu đến các mao mạch nhỏ, là nguyên nhân trực tiếp gây tắc mạch gây ra biến chứng nhồi máu.

Xơ vữa động mạch có thể gây nên hậu quả gì?
Mảng xơ vữa có thể hình thành ở bất kì vị trí nào trong lòng mạch. Ngoài ra, mảng xơ vữa sau khi hình thành có thể bị bong ra và theo mạch máu đi đến các vị trí khác nhau của cơ thể. Ở mỗi vị trí mảng xơ vữa hình thành hay tắc nghẽn có thể gây ra những triệu chứng cũng như biến chứng khác nhau:
– Xơ vữa động mạch vành: thường gây đau thắt ngực, nặng hơn có thể gây nhồi máu cơ tim.
– Xơ vữa động mạch não: ban đầu là tình trạng thiếu máu gây ù tai, rối loạn trí nhớ, mau quên, không tập trung. Biến chứng nặng nề nhất là tắc mạch não gây đột quỵ.
– Xơ vữa động mạch bụng: Giai đoạn đầu nhẹ chỉ có rối loạn tiêu hóa. Sau đó, xuất hiện đau bụng về đêm, sau ăn. Khi bị hẹp nặng có thể gây xuất huyết hay thủng dạ dày, hoại tử mạc treo, ruột.
– Xơ vữa động mạch thận: thiếu máu thận lâu ngày làm xơ hóa, tăng huyết áp do hẹp động mạch thận.
– Xơ vữa động mạch chi dưới: tổn thường gặp hầu hết ở các động mạch trừ động mạch mu bàn chân ít gặp hơn. Triệu chứng chủ yếu là: tê lạnh 2 chân, cơn đau cách hồi, huyết áp hai chân chênh lệch hoặc không bắt mạch được bên bị tắc. Lâu ngày có thể dẫn đến hoại tử.

Chẩn đoán xơ vữa động mạch
Chẩn đoán dựa vào nhiều dấu chứng và kết quả thăm dò cận lâm sàng không có một tiêu chuẩn rõ rệt. Có thể:
– Các rối loạn cơ năng do thiếu máu cục bộ cơ quan hoặc ngoại biên.
– Sự hiện diện của những yếu tố nguy cơ.
– Tình trạng động mạch ngoại biên.
– Kết quả xét nghiệm: soi đáy mắt, xét nghiệm bilan lipid, chụp động mạch cản quang, siêu âm doppler.

Mục tiêu điều trị
Có 3 mục tiêu chính là:
– Điều trị các yếu tố nguy cơ chính: rối loạn lipid, đái tháo đưòng, tăng huyết áp, thuốc lá trước khi có các triệu chứng (phòng bệnh sơ cấp) hoặc sau khi có các triệu chứng (phòng bệnh thứ cấp).
– Điều trị các biến chứng vữa xơ động mạch sơ cấp và thứ cấp (điều trị chống ngưng kết tiểu cầu)
– Điều trị đặc hiệu tổn thương: Một số nguy cơ phối hợp song song cần điều trị như: điều trị thay thế hocmon trong tiền mãn kinh, chế độ ăn kiêng trong béo phì, tăng hoạt động thể lực